Uống trà ngày nay đã trở thành một nét văn hoá, sở thích cũng như thói quen thường ngày của người Việt Nam. Trên thị trường có rất nhiều các loại trà cũng như cách pha riêng của từng loại để có thể giữ được hương vị và dưỡng chất của từng loại trà, hãy cùng Hội Quán Lạc Phúc tìm hiểu thêm về các nội dung trên nhé.

I. Một số loại trà tiêu biểu

1. Quy trình chế biến trà

Thế giới của trà là một vùng đất vô cùng bao la với nhiều chủng loại phong phú. Tuy đều xuất phát từ một giống cây trà (tên khoa học là cemellia sinensis) nhưng chỉ cần nơi trồng khác nhau, trải qua quy trình chế biến khác nhau là từng loại trà đã có hình dáng, mùi vị không giống nhau.

Nhìn chung, quy trình chế biến trà sẽ trải qua 5 bước cơ bản bao gồm:

- Hái: Giai đoạn thu hoạch lá trà, búp trà và làm sạch.

- Làm héo: Làm héo trà và làm mềm lá.

- Vò: Làm dập các phân tử và tạo hình cho lá trà khi thành phẩm.

- Oxy hóa: cho lá trà tương tác với oxy để tạo ra các loại trà khác nhau. Hương vị của trà sẽ được quyết đinh ở bước này. Nhờ quá trình oxy hóa, các cấu trúc của tế bào bị vỡ ra làm thay đổi những thành phần hóa học và hương vị của trà.

- Sấy: Định hình và làm khô.  

Tuy nhiên, không phải loại trà nào cũng trả qua đủ 5 bước trên, cũng có một số loại trà lặp lại nhiều lần trong cùng một công đoạn chế biến để tạo nên vị trà khác biệt.

2. Phân loại trà

Từ công đoạn oxy hóa quyết định vị trà mà trà được chia ra thành ba loại chính:

- Trà xanh: trà không oxy hóa. Một số loại trà xanh quen thuộc với người Việt Nam từ xưa đến nay có thể kể đến trà Thái Nguyên (trà Bắc, trà nõn tôm, trà móc câu). Gần đây còn có thêm một số loại trà xanh từ Trung Quốc du nhập vào Việt Nam cũng được người yêu trà đón nhận như trà Long Tỉnh, Bích Loa Xuân…

Trà nõn tôm Thái Nguyên

Trà Long Tỉnh


Quy trình sản xuất trà như trên giúp cho trà xanh giữ lại được lượng caffeine, polyphenol và các chất hữu cơ dễ bay hơi trong lá trà. Nói chung là trà xanh giữ lại được nhiều dược tố tốt, trong đó vitamin C chỉ có trong trà xanh, trà xanh cũng có chứa một chất kim rất hiếm là mangan (trà ô long cũng có nhưng ít).

Uống trà xanh hằng ngày không chỉ giúp tỉnh táo sảng khoái mà còn giúp lọc thận lợi tiều, kháng khuẩn, chống viêm, ổn định huyết áp và phòng chống ung thư.

- Trà lên men bán phần: trà oxy hóa một phần, hay còn được gọi là trà oolong, đây là loại trà được oxy hóa từ 20% đến 80%. Mức độ oxy hóa sẽ được phản ánh qua màu lá trà và màu nước, thường sẽ chuyển từ xanh sang vàng, hổ phách, nâu đỏ. Trà oolong thường thấy ở Việt Nam có Thiết Quan Âm, Oolong Sâm, Đại Hồng Bào…

Trà Thiết Quan Âm

Trà Đại Hồng Bào

Trà oolong khá được ưa chuộng vì hương vị đa dạng, có vị ngọt thơm hơn so với vị chát của trà xanh. Đôi khi do cách chế biến mà hương vị trà còn có thể giống hương gỗ, hạt dẻ, hương hoa,… Đồng thời trà oolong cũng trải qua quá trình chế biến phức tạo nhất trong các loại trà, với đầy đủ 5 giai đoạn. Trong đó giai đoạn làm dập và oxy hóa được lặp lại để tạo nên hương vị mong muốn. Một mẻ trà  oolong thành công mất ít nhất 32 giờ chế biến liên lục.

Trà oolong không chỉ đa dạng về mùi hương giúp nâng cao trải nghiệm thưởng thức trà mà hương thơm của trà còn giúp giải tỏa căng thẳng và có lợi cho hô hấp.

Trà oolng với những phản ứng từ quá trình oxy hóa còn tạo ra nhiều dược chất có lợi. Uống trà oolong hằng ngày được ghi nhận là có khả năng nâng cao sức đề kháng, phòng chống suy thận, giảm nguy cơ mắc bệnh răng miệng và hỗ trợ giảm cân, chống béo phì.

- Trà lên men toàn phần: trà oxy hóa hoàn toàn, hay còn được gọi là trà đen, hồng trà (red tea). Lá trà được oxy hóa hoàn toàn nên trà thành phẩm có màu đen, thơm nồng, nước trà pha ra có màu đỏ nâu, vị mạnh hơn các loại trà khác. Trong khi trà xanh chỉ giữ được hương trong vòng 1 năm thì trà đen vẫn giữ được hương thơm của nó trong nhiều năm. Đó là nguyên nhân ngày xưa Trung Quốc buôn bán trà đen khắp nơi sang Mông Cổ, Âu Châu theo con đường Tơ Lụa.

Trà đen

Trà đen không quá phổ biến tại Việt Nam, cũng ít có công ty sản xuất loại trà này cho thị trường nội địa vì khẩu vị người Việt thích uống trà xanh và oolong hơn Hiện nay, trà đen ở Việt Nam chủ yếu thấy nhiều trong pha chế trà sữa

Còn riêng trong giới uống trà, có thể kể đến Kỳ Môn Hồng Trà, Chánh Sơn Tiểu Chủng (Lapsang Souchong) của Trung Quốc, Trà đen Hồ Nhật Nguyệt (Sun Moon Lake) của Đài Loan là những loại trà đen tiêu biểu.

Kỳ Môn Hồng Trà

Trà đen được biết đến với tác dụng làm ấm, hỗ trợ tiêu hóa và đặc biệt là tăng cường chức năng tim mạch.

Ngoài ra loại trà này còn có khả năng giải độc do có chứa nhiều alkali  có thể hấp thụ kim loại nặng cùng kiềm sinh vật, đồng thời cũng lắng đọng phân giải. Điều này là một tin vui với người dùng bởi nguồn nước và thực phẩm hiện nay đang ngày càng bị nhiễm bẩn.

Bên cạnh những loại trà được phân loại như trên, còn có hai loại trà khác thường thấy là bạch trà và trà Phổ Nhĩ (pu’er tea).

- Bạch trà (trà trắng) là loại trà hoàn toàn được làm bằng búp non từ giống trà lá to trồng ở vùng núi cao, nhiệt độ thấp. Vùng trà cổ thụ Tây Bắc là điều kiện thích hợp để làm trà trắng.

Bạch trà cổ thụ nghìn năm

Loại trà này có tên là bạch trà bởi lá trà còn giữ lại lớp lông mao bao quanh, khiến lá trà có màu trắng đẹp mắt. Đây là loại trà có cách chế biến đơn giản nhất khi chỉ trải qua ba công là hái, làm héo và hong khô. Bên cạnh đó do chỉ lấy búp trà để chế biến nên trà trắng có nhiều thành phần dược chất quan trọng, nước trà màu vàng nhạt, rất trong, hương thơm tinh tế.

Trà trắng được đánh giá có khả năng hạn chế cholesterol, chống oxy hóa tăng cường hệ miễn dịch và ngăn chặn tế bào ung thư.

- ​Trà Phổ Nhĩ là loại trà được đóng thành dạng bánh, được làm từ lá của những cây trà cổ thụ hay mọc ở vùng núi Tây Bắc và Vân Nam Trung Quốc. Phổ Nhĩ là tên một thị trấn, nơi trung tâm giao thương của những người buôn trà, từ đây trà được vận chuyển đi khắp nơi, từ các tỉnh nội địa, sang Tây Tạng, Châu Âu, Việt Nam, Miến Điện…

Trà Phổ Nhĩ thường được ép thành các dạng khối, phổ biến là dạng bánh tròn và dạng viên. Nước trà pha có màu đỏ hoặc nâu đen, mùi gỗ mục, mùi đất, vị mịn màng, trên bề mặt thường có lớp màng mỏng như giọt dầu. Khác với những loại trà khác phải uống nhanh, Phổ Nhĩ càng để lâu càng có hương vị thơm ngon, giá trị càng cao.

Trà Phổ Nhĩ bánh tròn

 

Trà Phổ Nhĩ quýt dạng viên

Hiện nay, một số cơ sở ở Việt Nam đã làm trà Phổ Nhĩ từ lá trà cổ thụ, tuy nhiên chất lượng đánh giá là chưa tới, còn phải học hỏi nhiều. Người tiêu dùng trong nước vẫn chuộng trà Phổ Nhĩ Vân Nam, Phổ Nhĩ Đài Loan.

Có 2 loại trà Phổ Nhĩ là Phổ Nhĩ sống và Phổ Nhĩ chín.

Trà Phổ Nhĩ sống có cách chế biến đơn giản, trà sau khi vò thì được hong khô bằng cách phơi nắng, sau đó được đóng bánh; men trà vẫn còn nên trà tiếp tục oxy hóa trong quá trình lưu trữ. Thường thì trà Phổ Nhĩ sống để tầm 10 năm mới uống sẽ có hương vị ngon nhất, ngửi có mùi trầm hương.

Trà Phổ Nhĩ sống

Trà Phổ Nhĩ chín thì sau khi làm khô không đóng bánh ngay mà trải qua quá trình ép lên men (chất đống và ủ ướt) trong khoảng 30 đến 50 ngày. Trà Phổ Nhĩ chín sau 3 năm uống sẽ có hương vị tốt nhất, ngửi có mùi trà chín, vị ngọt hậu.

Trà Phổ Nhĩ chín

Trà Phổ Nhĩ được làm từ lá trà bản to, lá dày chứa nhiều vi chất và hàm lượng tinh bột cao nên quá trình lên men diễn ra hoàn toàn, tạo nên nhiều dược chất có lợi. Trà Phổ Nhĩ có khả năng làm ấm, hỗ trợ tiêu hóa rất tốt. Tác dụng của Phổ Nhĩ trong việc giảm mỡ máu, tốt cho gan và tim mạch đã được nhiều người sử dụng kiểm chứng, trà Phổ Nhĩ còn được coi là “trà ích thọ”.

II. Cách pha trà

Vì trà được phân chia thành nhiều loại khác nhau, nên từng loại trà cũng phải có cách pha riêng biệt để đảm bảo vị trà.

1. Pha trà xanh và bạch trà

Đối với các loại trà xanh và bạch trà, việc pha trà thường trải qua 4 bước cơ bản:

- Bước 1: Chuẩn bị dụng cụ

Ấm pha trà (tốt nhất là ấm tử sa).

Nước nóng 85 – 90 độ C.

Loại trà bạn thích.

- Bước 2: Tráng trà

Bỏ trà vào ấm pha trà, rót nước nóng ngập trà, lắc nhẹ tay và nhanh chóng trút bỏ nước.

- Bước 3: Pha trà

Rót nước nóng vào ¼ ấm pha trà, lắc nhẹ tay trong 15 – 20s. Lúc này hương thơm đặc trưng của trà bắt đầu tỏa ra.

Đổ thêm nước nóng đến khoảng ¾ ấm pha trà. Ủ trà trong khoảng 35s là đã có thể thưởng thức.

- Bước 4: Rót thêm nước

Sau khi uống trà còn khoảng ¼ lượng nước trà chúng ta nên rót thêm nước nóng vào để tiếp tục thưởng thức. Thời gian ủ trà từ nước 2 trở đi sẽ lâu hơn so với nước 1. Với một số loại trà xanh, ví dụ như trà Long Tỉnh, bạn có thể chế nước thêm từ 4-6 lần.

2. Pha trà đã oxy hóa và trà Phổ Nhĩ

Các loại trà đã oxy hóa và trà Phổ Nhĩ thường có cách pha như sau:

- Bước 1: Chuẩn bị ấm pha trà, tốt nhất là ấm tử sa và các trà cụ. Dùng nước sôi tráng qua ấm chén với mục đích làm nóng ấm chén, diệt khuẩn.

- Bước 2: Cho trà vào ấm tử sa, tùy từng số lượng người thưởng trà mà ta pha cho thích hợp.

- Bước 3: Dùng nước sôi đánh thức trà, đổ nước nhanh không được ngâm trà quá 3 giây, nếu ngâm lâu sẽ làm hỏng trà, hương vị không chuẩn.

- Bước 4: Rót nước nóng khoảng 90 - 95 độ vào ấm, ủ trà trong khoảng 30 - 40 giây thì rót trà qua phễu lọc xuống chén tống chuyên trà, rồi rót ra từng chén nhỏ để thưởng thức.

Màu các loại trà và nước trà